Thứ Năm, 8 tháng 12, 2016

Lời khuyên về tài chính ai cũng có thể áp dụng của giáo sư Mỹ

Giáo sư Pollack nói: “Không ai trong chúng ta là Warren Buffett. Thực tế, Warren Buffett còn cố gắng nhắc nhở con ông rằng chúng không phải là Warren Buffett, và ông khuyên con mình đầu tư tài sản vào các quỹ chỉ số hơn là đi theo con đường mà ông đã đi”.


Giáo sư Harold Pollack tại Đại học Chicago mới đây đưa ra các lời khuyên tài chính hiệu quả mà ai cũng có thể áp dụng một cách ngắn gọn, súc tích.
Nhà đầu tư Warren Buffett - Ảnh: AFP
Theo trang Market Watch, lời khuyên tài chính từ Giáo sư Pollack không đi kèm các bảng chỉ số chứng khoán, nhiều năm học tập tại trường kinh doanh và không quá khô cứng như nhiều cuốn sách cùng loại. Ông Harold Pollack tóm tắt 7 lời khuyên tài chính của mình rất ngắn gọn và đi thẳng vào vấn đề:
1. Tiết kiệm 10% đến 20% thu nhập
2. Trả thẻ tín dụng hằng tháng đầy đủ
3. Tối đa hóa kế hoạch hưu trí
4. Đừng bao giờ mua cổ phiếu riêng lẻ, thay vào đó, nên sử dụng các quỹ tương hộ đa dạng danh mục
5. Thuê một nhà tư vấn tài chính là người được ủy thác
6. Mua nhà khi bạn đã sẵn sàng
7. Có bảo hiểm phù hợp
Những lời khuyên trên không giúp bạn trở thành nhà đầu tư huyền thoại Warren Buffett và bạn sẽ không trở thành Warren Buffett. Song bạn vẫn sẽ làm theo chính xác những gì nhà đầu tư lừng danh này đã từng khuyên, Giáo sư Pollack cho hay.
Ông Buffett có nhiều nguồn lực hơn bạn và đa số các nhà đầu tư khác. Ông mang danh tiếng và kinh nghiệm của mình đến từng giao dịch và có được những thứ mà người khác không có.
Giáo sư Pollack nói: “Không ai trong chúng ta là Warren Buffett. Thực tế, Warren Buffett còn cố gắng nhắc nhở con ông rằng chúng không phải là Warren Buffett, và ông khuyên con mình đầu tư tài sản vào các quỹ chỉ số hơn là đi theo con đường mà ông đã đi”.
Đầu tư và tích lũy tài sản không phải là việc quá khó và bạn cũng có thể làm được. Ngành tài chính - Phố Wall, các phương tiện truyền thông và nhà môi giới chứng khoán có thứ hạng - không có quyền lợi gì khi nói với bạn rằng công việc họ làm thực sự đơn giản, vì làm thế đồng nghĩa với việc thừa nhận khoản phí mà họ yêu cầu được trả không đi cùng với giá trị thực mà họ đem lại. 

Người giàu thì làm thế nào để luôn giàu?

Nhiều người giàu ưa thích gửi tiền của họ, thường là một khoản có 7 hoặc 8 chữ số, trong các bất động sản, Phó chủ tịch Paul Patterson của hãng RBC Wealth Management ở Canada nói. Một số tậu bất động sản thương mại, một số chọn các căn hộ đắt đỏ ở London, New York và các thành phố khác. Nhiều nhà đầu tư kỳ vọng nhà đất sẽ đem lại lợi nhuận đáng kể và trong thời gian còn sở hữu, họ có thể ở hoặc tận dụng chúng trong các kỳ nghỉ.


Làm thế nào một số người giàu lên và luôn duy trì tình trạng tài chính đó? Cây bút Bryan Borzykowski của hãng tin BBC mới đây có bài viết trả lời cho câu hỏi này.
Tỉ phú Bill Gates (trái) và nhà đầu tư Warren Buffett - Ảnh: Bloomberg

Bài viết dưới đây thể hiện quan điểm của tác giả Bryan Borzykowski khi nói về con đường đi lên và cách duy trì mức rủng rỉnh của một số người giàu có.
Làm giàu và duy trì sự giàu có
Nhiều người trong số chúng ta có ít tiền để đầu tư và phần đông thường đổ tiền vào một quỹ đầu tư hoặc một loại cổ phiếu. Đó không phải là hành động thực sự của những người giàu. Giới giàu có thường gửi tiền của họ vào bất động sản, nghệ thuật, các doanh nghiệp và những khoản đầu tư khác mà phần lớn trong chúng ta chỉ có thể mơ ước sở hữu.
Hãy học hỏi ông Joshua Coleman. Khi gia đình ông bán hãng viễn thông của họ ở Chicago với giá 400 triệu USD vào năm 2004, họ đã không dùng tiền để mua ngay thứ gì đó xa xỉ. Thay vào đó, họ bắt đầu tìm kiếm lời khuyên về cách tiết kiệm, làm giàu mới và đây là yếu tố giúp họ đi lên. Năm 2011, ông Coleman thành lập hãng Momentum Advanced Planning nhằm kết nối giới chuyên gia về thuế, luật pháp và tài chính với nhiều người. Nếu ông tiếp tục nghĩ đến việc bán công ty trên, ông sẽ lại có thành công lần nữa như doanh nghiệp đầu tiên của gia đình mình.
Nếu bạn cho rằng khởi nghiệp, lập công ty là cách kỳ lạ để đầu tư tiền của mình, bạn khó có thể nằm trong số những người siêu giàu. Những cá nhân có ít nhất 30 triệu USD không chỉ đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu mà còn để tiền sinh ra tiền bằng cách mua các doanh nghiệp hay đầu tư vào các loại chứng khoán bất thường.
“Đây được gọi là rủi ro alpha. Đó là loại công cụ có thể cho ra nhiều kết quả ngược”, ông Coleman nói. Con đường này có vô số rủi ro so với đầu tư truyền thống, tuy nhiên lợi ích mà nó mang lại thì lớn hơn.
Người giàu làm thế nào để luôn giàu? - ảnh 1
Có phải đầu tư là việc duy nhất những người giàu có làm? -  Ảnh: AFP
Người giàu chỉ đầu tư?
Có thể. Những người giàu có khả năng tham gia vào các lĩnh vực đầu tư mà số đông người dân không biết. Các quỹ closed-end cho đầu tư lâu dài, nơi mà tiền bạc thường cứ chất lên trong ít nhất 5 năm, cung cấp khoản lợi nhuận lớn và lợi suất cao.
Cho thuê máy bay là một trong những lĩnh vực đầu tư vừa chớm nở, CEO quản lý tài sản Ian Marsh của hãng Fleming Family and Partners cho biết. Hãng Fleming Family and Partners ban đầu được lập ra để quản lý tài sản cho ông Ian Fleming, tác giả của James Bond. Khách hàng của ông Ian Marsh làm việc với công ty Doric, hãng dùng tiền của nhà đầu tư để mua máy bay được các hãng hàng không lớn như Emirates Airlines thuê lại. Giới đầu tư cuối cùng có thể rút tiền ra khỏi quỹ khi máy bay được bán, và họ có thể có tiền lời hằng năm là 9% chỉ với việc đầu tư cho thuê máy bay. Trong khi đó, các doanh nghiệp có mặt trong chỉ số S&P 500 của Mỹ chỉ cho lợi suất chừng 3%.
Một số nhà đầu tư lắm tiền nhiều của ở Anh và các nước khác đang mua đất nông nghiệp. Khi dân số thế giới tăng lên, nhu cầu thực phẩm cũng tỷ lệ thuận và những người sở hữu đất nông nghiệp có thể thu bộn tiền. Theo ông Marsh, một mảnh đất tốt có thể cho nhà đầu tư khoản lời 4%. Nếu không đủ khả năng đầu tư vào một quỹ máy bay hoặc mua đất trực tiếp, các công ty chuyên đi mua đất nông nghiệp như Gladstone Land ở Mỹ cũng là một kênh đầu tư có thể cân nhắc.
Mua thêm nhiều công ty
Những cá nhân giàu có đủ tiền để ở hữu công ty có thể mua doanh nghiệp khác. Ông Coleman đầu tư vào một số doanh nghiệp, chủ yếu trong lĩnh vực dịch vụ chuyên nghiệp và công nghệ cao. Ông có nhiều cổ phần trong các công ty đến nỗi không nhớ chính xác con số. Ông thường đầu tư cùng một nhóm nhà đầu tư và một công ty cổ phần tư nhân và thường thì sẽ bỏ ra hơn 1 triệu USD để có một phần doanh nghiệp.
Quan sát doanh nghiệp từ tay trắng đi lên là chuyện thú vị và nhiều nhà đầu tư sẽ có kinh nghiệm, mạng lưới để giúp doanh nghiệp lớn mạnh, doanh nhân giàu có David Rose ở New York (Mỹ) nói. “Hãy thử tưởng tượng bạn đổ tiền vào Google từ thời hãng còn chập chững. Bạn có thể gặp đội ngũ sáng lập hàng tuần, có cái nhìn cận cảnh về cách công ty đi lên”, ông Rose nói.
Đây có thể là một cách sinh lợi, dù 50% doanh nghiệp khởi nghiệp có nguy cơ phá sản. Ông Rose cho hay một nhà đầu tư giàu có có thể sinh lợi từ 20 đến 50 lần vốn đầu tư ban đầu nếu doanh nghiệp mà họ đổ tiền vào may mắn thành công. Ông thường đặt 50.000 USD đến 100.000 USD vào một công ty dạng này, và cho hay mình đã kiếm được hàng triệu USD từ các khoản đầu tư.
Người giàu làm thế nào để luôn giàu? - ảnh 3
Người giàu theo đuổi thú vui đắt đỏ - Ảnh: AFP
Theo đuổi thú vui đắt đỏ
Nhiều người giàu có các khoản đầu tư “vì đam mê” như đổ tiền vào nghệ thuật, ô tô, đồng hồ, rượu và thậm chí nhạc cụ, CEO kiêm giám đốc phát triển kinh doanh Guy Hudson của hãng Stonehage Investment Partners cho biết. Trong khi nhiều người mua tài sản tăng trưởng về giá trị, những người giàu mua tài sản đôi khi để quan sát hay sử dụng chúng. Theo ông Hudson, giá trị của các “khoản đầu tư vì đam mê” tăng gần 15% trong năm 2013.
“Khát” bất động sản
Nhiều người giàu ưa thích gửi tiền của họ, thường là một khoản có 7 hoặc 8 chữ số, trong các bất động sản, Phó chủ tịch Paul Patterson của hãng RBC Wealth Management ở Canada nói. Một số tậu bất động sản thương mại, một số chọn các căn hộ đắt đỏ ở London, New York và các thành phố khác. Nhiều nhà đầu tư kỳ vọng nhà đất sẽ đem lại lợi nhuận đáng kể và trong thời gian còn sở hữu, họ có thể ở hoặc tận dụng chúng trong các kỳ nghỉ.
“Những người giàu thường mua hai hoặc ba bất động sản như thế ở khắp nơi trên thế giới. Chúng có giá trị lâu dài lớn, đặc biệt ở các thị trường cốt lõi”, ông Patterson cho hay. Một người bình thường có thể không đủ khả năng sở hữu một căn hộ sang trọng ở New York, song hoàn toàn có thể mua một căn nhà trong khu phố họ ở, cho thuê lại hoặc bán lúc được giá. 

20 nghề nghiệp điển hình dành cho người thích là tâm điểm của sự chú ý

Công việc: Điều trị bệnh, thương tích hoặc khuyết tật ở miệng và trên khuôn mặt bệnh nhân bằng cách phẫu thuật.
Nếu bạn luôn thích trở thành tâm điểm của sự chú ý, 20 nghề nghiệp gợi ý dưới đây có thể là công việc phù hợp nhất với bạn.
Trang Business Insider mới đây xem xét Mạng Thông tin Nghề nghiệp (O*NET), cơ sở dữ liệu của Bộ Lao động Mỹ lưu trữ thông tin chi tiết về hàng trăm việc làm, để tìm ra các vị trí mà thành tích và sự công nhận trong nghề lớn hơn các khía cạnh khác, chẳng hạn như mối quan hệ và sự độc lập. Ngoài ra, trang tin này còn xem xét dữ liệu lương bổng của Cục Thống kê Lao động Mỹ để chọn ra các vị trí làm việc được trả lương cao nhất.
Kết quả tổng hợp cho ra danh sách 20 việc làm phù hợp cho các cá nhân vừa thích là trung tâm của sự chú ý, vừa thích kiếm được số tiền hơn sáu chữ số mỗi năm. Dưới đây là 20 nghề nghiệp đó, xếp theo mức lương từ thấp đến cao.  
20 nghề nghiệp dành cho người thích là tâm điểm của sự chú ý - ảnh 1
Ảnh: Business Insider
20. Nhà toán học
Lương trung bình: 103.720 USD/năm
Công việc: Nghiên cứu và phát triển các nguyên tắc toán học. Ngoài ra họ còn phân tích dữ liệu và áp dụng phương pháp toán học để giải quyết các vấn đề thực tế.
19. Giảng viên kỹ thuật (sau trung học)
Lương trung bình: 104.220 USD/năm
Công việc: Dạy các khóa học liên quan đến việc áp dụng những định luật vật lý và nguyên tắc kỹ thuật vào việc phát triển máy móc, nguyên vật liệu, công cụ, quy trình hoặc dịch vụ ở trình độ cao đẳng, đại học.
18. Quản lý quỹ đầu tư
Lương trung bình: 104.850 USD/năm
Công việc: Lên kế hoạch, chỉ đạo và phối hợp các chiến lược đầu tư và hoạt động của một lượng lớn tài sản lưu động đến từ nhà đầu tư tổ chức hoặc cá nhân.
17. Nhà khoa học chính trị
Lương trung bình: 104.920 USD/năm
Công việc: Nghiên cứu nguồn gốc, phát triển và hoạt động của hệ thống chính trị. Họ là những người phân tích các chính phủ, chính sách, xu hướng chính trị và các vấn đề liên quan.
16. Nhà nghiên cứu về đất
Lương trung bình: 105.720 USD/năm
Công việc: Nghiên cứu thành phần, cấu trúc và các khía cạnh vật lý khác của trái đất. Nhóm việc làm này bao gồm những nghề như nhà khoáng vật học và cổ sinh vật học.
20 nghề nghiệp dành cho người thích là tâm điểm của sự chú ý - ảnh 2
Ảnh: Business Insider
15. Giảng viên kinh tế học (sau trung học)
Lương trung bình: 106.980 USD/năm
Công việc: Giảng dạy khóa học kinh tế trình độ cao đẳng, đại học.
14. Kỹ sư hệ thống máy tính
Lương trung bình: 108.430 USD/năm
Công việc: Thiết kế và phát triển giải pháp cho những vấn đề ứng dụng phức tạp, hệ thống quản lý hoặc vấn đề mạng.
13. Nhà thiên văn học
Lương trung bình: 110.220 USD/năm
Công việc: Quan sát, nghên cứu và giải thích các hiện tượng thiên văn. Công trình của họ giúp nâng cao kiến thức cơ bản của con người về vũ trụ, có thể được áp dụng giải quyết vấn đề thực tế.
12. Bác sĩ nhi khoa
Lương trung bình: 183.180 USD/năm
Công việc: Chẩn đoán, điều trị và giúp ngăn ngừa bệnh tật ở trẻ em.
11. Bác sĩ da liễu
Lương trung bình: 187.200 USD/năm
Công việc: Chẩn đoán, điều trị, ngăn ngừa bệnh và bất thường về da như mụn trứng cá, vảy nến, gàu…
20 nghề nghiệp dành cho người thích là tâm điểm của sự chú ý - ảnh 3
Ảnh: Reuters
10. Bác sĩ nhãn khoa
Lương trung bình: 187.200 USD/năm
Công việc: Kiểm tra mắt, điều chỉnh tầm nhìn và thực hiện các ca phẫu thuật về mắt.
9. Bác sĩ khoa thần kinh
Lương trung bình: 187.200 USD/năm
Công việc: Chẩn đoán, điều trị, phòng ngừa bệnh và rối loạn hệ thần kinh.
8. Bác sĩ đa khoa và bác sĩ gia đình
Lương trung bình: 192.120 USD/năm
Công việc: Chẩn đoán, điều trị và phòng ngừa các bệnh và chấn thương thông thường thông qua kiểm tra sức khỏe thường xuyên.
7. Bác sĩ tâm thần
Lương trung bình: 193.680 USD/năm
Công việc: Chẩn đoán, điều trị và phòng ngừa các rối loạn tâm thần. Bác sĩ tâm thần có thể phối hợp với các bác sĩ chuyên khoa khác, nhà tâm lý học, nhân viên xã hội, y tá chuyên khoa tâm thần để đưa ra kế hoạch điều trị.
6. Bác sĩ nội khoa
Lương trung bình: 196.520 USD/năm
Công việc: Chẩn đoán, điều trị bệnh và chấn thương nội tạng, sử dụng các biện pháp phi phẫu thuật.
20 nghề nghiệp dành cho người thích là tâm điểm của sự chú ý - ảnh 4
Ảnh: Business Insider
5. Nhân viên chăm sóc sức khỏe
Lương trung bình: 197.700 USD/năm
Công việc: Cung cấp dịch vụ chăm sóc cho bệnh nhân nội trú ở các khoa phòng cụ thể, khoa chăm sóc đặc biệt, khoa phục hồi chức năng hoặc phòng cấp cứu.
4. Bác sĩ chỉnh hình răng
Lương trung bình: 221.390 USD/năm
Công việc: Thiết kế và xử lý các thiết bị giúp tổ chức lại răng và hàm của bệnh nhân.
3. Bác sĩ sản khoa và bác sĩ phụ khoa
Lương trung bình: 222.400 USD/năm
Công việc: Chăm sóc sức khỏe cho nữ giới nói chung và cho phụ nữ đang trong thai kỳ.
2. Bác sĩ phẫu thuật miệng và hàm mặt
Lương trung bình: 233.900 USD/năm
,1. Bác sĩ phẫu thuật
Lương trung bình: 247.520 USD/năm
Công việc: Thực hiện phẫu thuật xâm lấn, phẫu thuật xâm lấn tối thiểu hoặc không xâm lấn để điều trị bệnh và thương tật cho bệnh nhân.

Thái Lan cùng dồn sức khởi nghiệp

“Năm 2016 là năm vàng cho ngành công nghiệp khởi nghiệp tại Thái Lan. Thái Lan hiện có khoảng 2.000 start-up và chúng tôi mong muốn đến năm 2018, con số này sẽ là 10.000”, ông Uttama nói. Bên cạnh Quỹ 20 tỉ baht, trong tuần này chính phủ Thái cũng sẽ công bố chương trình “Thái Lan khởi nghiệp 2016” tại Bangkok hỗ trợ 40 triệu baht cho các công ty khởi nghiệp phát triển hướng đi mở rộng sang các thị trường mới. Cụ thể, 50 start-up về mảng công nghệ thành lập từ năm 2011 đến năm 2016 sẽ nhận 800.000 baht/công ty.

Thái Lan đang xúc tiến thành lập Quỹ hỗ trợ các công ty khởi nghiệp với số tiền lên đến 20 tỉ baht, tương đương khoảng 571 triệu USD.
Chuyên gia kinh tế nói chuyện về khởi nghiệp cho nông dân tỉnh Bueang Kan, Thái Lan /// Ảnh: Lam Yên

Cụ thể, trong năm nay, chính phủ Thái sẽ phân bổ 10 tỉ baht cho Bộ Tài chính và 10 tỉ baht cho Bộ Thông tin - Công nghệ truyền thông (ICT). Theo đó, ICT sẽ lập một quỹ kinh tế kỹ thuật số để hỗ trợ các doanh nghiệp khởi nghiệp (start-up) về mảng công nghệ. Bộ này sẽ làm việc với các trường đại học như Chulalongkorn, Bangkok, Sripatum King Monkut, Viện Công nghệ Lat Krabang… nhằm thiết lập “Vườn ươm kỹ thuật số” thúc đẩy các ngành như du lịch, y tế, robot và công nghiệp sáng tạo... “Các start-up về công nghệ sẽ tạo nên làn sóng mới cho sự phát triển kinh tế kỹ thuật số của Thái Lan”, Teerachart Kortrakul, thành viên Ban Giám đốc Hiệp hội Khởi nghiệp công nghệ Thái Lan, cho biết.
Trong khi đó, Bộ Tài chính đã lập Quỹ cạnh tranh để tài trợ cho doanh nghiệp khởi nghiệp ở 5 ngành nghề: chăm sóc sức khỏe, công nghệ tài chính, công nghệ nông nghiệp, du lịch và công nghệ kỹ thuật số. “Chính phủ có chiến lược rõ ràng để hỗ trợ khởi nghiệp, không chỉ về tài chính mà còn tạo môi trường cho doanh nghiệp phát triển”, Bộ trưởng Khoa học - Công nghệ Pichet Durongkaveroj khẳng định.
Bộ trưởng ICT Uttama Savanayana cho biết thêm Quỹ 20 tỉ baht dự kiến tài trợ cho 2.500 doanh nghiệp start-up nhằm chuyển đổi chiến lược phát triển truyền thống sang mô hình mới hơn để thúc đẩy đổi mới. Mục tiêu lớn nhất là vừa tăng sức cạnh tranh với doanh nghiệp khởi nghiệp các nước ASEAN khác, vừa đẩy mạnh năng lực xâm nhập thị trường khu vực với VN, Myanmar, Campuchia...
“Năm 2016 là năm vàng cho ngành công nghiệp khởi nghiệp tại Thái Lan. Thái Lan hiện có khoảng 2.000 start-up và chúng tôi mong muốn đến năm 2018, con số này sẽ là 10.000”, ông Uttama nói. Bên cạnh Quỹ 20 tỉ baht, trong tuần này chính phủ Thái cũng sẽ công bố chương trình “Thái Lan khởi nghiệp 2016” tại Bangkok hỗ trợ 40 triệu baht cho các công ty khởi nghiệp phát triển hướng đi mở rộng sang các thị trường mới. Cụ thể, 50 start-up về mảng công nghệ thành lập từ năm 2011 đến năm 2016 sẽ nhận 800.000 baht/công ty.
Một động thái mạnh mẽ khác nhằm duy trì tính cạnh tranh và tăng trưởng kinh tế là bên cạnh việc duyệt chi 15 tỉ baht phủ sóng internet băng thông rộng đến 30.000 cộng đồng dân cư trên toàn quốc trong vài năm tới, Thái Lan cũng đang lên kế hoạch thành lập “Khu khởi nghiệp” tại Bangkok, Chiang Mai và một số tỉnh khác trên toàn quốc. Hơn nữa, nhằm tạo điều kiện tối đa cho khởi nghiệp, Hiệp hội Khởi nghiệp công nghệ Thái Lan sẽ yêu cầu chính phủ giảm bớt thủ tục hành chính, ưu đãi thuế bổ sung và cung cấp một số đặc quyền để thu hút đầu tư nước ngoài vào các start-up địa phương.

7 cách giúp Ấn Độ trở thành ‘Trung Quốc thứ hai’ trong 16 năm tới

Một trong những sáng kiến đầu tiên mà chính phủ ông Modi đưa ra là nhiệm vụ “Swachh Bharat” - sứ mệnh cải thiện vệ sinh trên toàn quốc bằng việc xây thêm nhà vệ sinh. Cơ sở quản lý chất thải được đề nghị xây dựng trên hơn 50.000 ngôi làng ở Ấn Độ.

Ấn Độ muốn trở thành nền kinh tế 10.000 tỉ USD vào năm 2032. Nói cách khác, quốc gia Nam Á mong đứng ở vị trí của Trung Quốc hôm nay sau 16 năm nữa.
Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi trong lễ kỷ niệm Quốc khánh 15.8.2015  /// Reuters
Theo trang Quartz, đây là mục tiêu đáng chú ý và có thể khả thi, đặc biệt là với nền kinh tế đã tăng trưởng 4,6 lần trong 16 năm qua như Ấn Độ. Từ 494 tỉ USD năm 2001, quy mô kinh tế Ấn Độ được cho là sẽ vươn lên 2.200 tỉ USD vào cuối năm nay.
Kinh tế Trung Quốc hiện đã có quy mô trên 10.000 tỉ USD còn nền kinh tế số một thế giới là Mỹ thì có quy mô 17.000 tỉ USD, theo số liệu từ Ngân hàng Thế giới (WB).
Năm ngoái, Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi tiến thêm một bước xa hơn khi tuyên bố ước mơ của ông là biến Ấn Độ trở thành nền kinh tế 20.000 tỉ USD. Ông không đưa ra khung thời gian nhất định trong tuyên bố đó.
Mới đây, viện chính sách NITI Aayog đưa ra một lộ trình nhằm giúp nền kinh tế lớn thứ ba châu Á cán mốc 10.000 tỉ USD vào năm 2032. Trong phần thuyết trình gửi đến ông Modi hồi tuần trước, viện chính sách cho biết Ấn Độ có thể đạt mục tiêu trên nếu tăng trưởng từ 7% đến 10% mỗi năm, bắt đầu từ năm nay.
CEO Amitabh Kant của NITI Aayog cho biết: “Nếu chúng ta trở thành nền kinh tế 10.000 tỉ USD vào năm 2032 với tăng trưởng 10%/năm, tác dụng kép sẽ biến chúng ta trở thành nền kinh tế 20.000 tỉ USD trong 6 đến 7 năm sau mốc 2032. Mức tăng trưởng 10% mỗi năm là thách thức lớn nhất”.
7 cách giúp Ấn Độ trở thành ‘Trung Quốc thứ hai’ trong 16 năm - ảnh 1
Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi có ước mơ biến Ấn Độ trở thành nền kinh tế 20.000 tỉ USD - Ảnh: Reuters
Viện NITI Aayog cho hay tốc độ tăng trưởng như trên có thể xóa đói nghèo, tạo ra hơn 175 triệu việc làm mới. Nếu Ấn Độ không thể cải thiện tăng trưởng từ mức 7%, họ vẫn sẽ có 6% dân số sống dưới mức nghèo vào năm 2032.
Hiện tại, khoảng 12,9% dân số Ấn, tương đương 172 triệu người, đang sống dưới mức nghèo khổ. Với dân số dự kiến lên hơn 1,4 tỉ USD vào năm 2030, tăng trưởng như hiện nay không đủ sức xóa bỏ đói nghèo ở Ấn Độ.
Cụ thể, viện chính sách đưa ra bảy phương án để giúp kinh tế Ấn Độ tăng trưởng 10% mỗi năm.
1. Cải thiện cơ sở hạ tầng
Chính phủ của ông Narendra Modi đã tập trung rất nhiều vào việc cải thiện vướng mắc trong cơ sở hạ tầng từ năm 2014. Chính phủ Ấn Độ đã cam kết đầu tư khoảng 30 tỉ USD vào cơ sở hạ tầng trong năm 2017. NITI Aayog dự báo thêm 10.000 km dự án đường bộ trong năm nay sẽ góp phần giúp đất nước đạt mục tiêu 10.000 tỉ USD. Ngoài ra, cải thiện sân bay và phát triển các làng thông minh, tương tự như thành phố thông minh, cũng là việc nên làm.
2. Cải thiện kỹ năng người Ấn
Chính phủ cũng vạch ra con đường cải thiện các khóa học phát triển kỹ năng trên toàn quốc để đối phó tỷ lệ thất nghiệp khoảng 10%. Việc liên kết các sàn giao dịch việc làm và dịch vụ việc làm quốc gia sẽ giúp cải thiện tình hình lao động.
7 cách giúp Ấn Độ trở thành ‘Trung Quốc thứ hai’ trong 16 năm - ảnh 2
Thiếu chất lượng giáo dục là một trong những vấn đề lớn của Ấn Độ - Ảnh: Reuters
3. Du lịch y tế và giáo dục đạt chất lượng
Lộ trình của NITI Aayog cho thấy du lịch y tế có thể giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Ấn Độ. Ngành công nghiệp du lịch y tế của nước này hiện ở mức 3 tỉ USD và có thể lên hơn 8 tỉ USD vào năm 2020. Cải thiện chăm sóc sức khỏe hỗ trợ những người đang sống dưới mức nghèo. Ngoài ra, thiếu chất lượng giáo dục cũng là vấn đề được nhắc đến, vì một nửa số học sinh lớp 5 của Ấn Độ đang đọc bài đọc trình độ lớp 2.
4. Mở cửa kinh doanh
Ấn Độ liên tiếp bị xếp hạng thấp trong Chỉ số Kinh doanh, bảng xếp hạng các quốc gia về mức độ dễ dàng cho việc thành lập và vận hành doanh nghiệp. NITI Aayog đề nghị chính phủ loại bỏ 1.053 điều luật đã lạc hậu.
5. Cải thiện nông nghiệp
Tại vùng đất có hàng ngàn nông dân tự tử mỗi năm vì mất mùa và gánh nặng tài chính, kế hoạch đi lên con số 10.000 tỉ USD được đề xuất cũng bao gồm việc áp dụng công nghệ tiên tiến, thiết lập quỹ thủy lợi và sử dụng các giống hoa màu có năng suất cao. Bốn công viên thực phẩm lớn và 20 dự án dây chuyền lạnh cũng được thiết kế để bảo quản sản phẩm nông nghiệp.
7 cách giúp Ấn Độ trở thành ‘Trung Quốc thứ hai’ trong 16 năm - ảnh 3
Hàng ngàn nông dân Ấn Độ tự tử mỗi năm vì mất mùa và gánh nặng tài chính - Ảnh: Reuters
6. Làm sạch đất nước
Một trong những sáng kiến đầu tiên mà chính phủ ông Modi đưa ra là nhiệm vụ “Swachh Bharat” - sứ mệnh cải thiện vệ sinh trên toàn quốc bằng việc xây thêm nhà vệ sinh. Cơ sở quản lý chất thải được đề nghị xây dựng trên hơn 50.000 ngôi làng ở Ấn Độ.
7. Sống xanh
Nhiều thập kỷ qua, Ấn Độ gặp khó với việc sản xuất điện. Năm ngoái, nước này thâm hụt 3,6% nguồn cung năng lượng trong giờ cao điểm, làm ảnh hưởng hoạt động sản xuất và năng suất công nghiệp. NITI Aayog giờ đây gợi ý đất nước giảm hóa đơn nhập khẩu nhiên liệu và trợ cấp nhiên liệu bằng cách cải thiện hiệu quả sử dụng chúng. Đưa ra các yêu cầu về khí thải gắt gao hơn và xây dựng nhiều tòa nhà tiết kiệm năng lượng là hai trong số nhiều phương án được đưa ra. 

Công thức đạt thành công của các doanh nghiệp hàng đầu Mỹ

Uber có ý định chiến lược là cung cấp ô tô tự lái, nhưng trong lúc ngành công nghệ vẫn đang phát triển, họ xoay sở với các tài xế bình thường. Uber đã xây dựng nền tảng cho phép sự phát triển nhanh chóng khi công nghệ, hành vi người tiêu dùng và các quy định thay đổi.


Những câu chuyện thành công của các doanh nghiệp công nghệ phát triển nhanh nhất Thung lũng Silicon, như Google, Amazon hay Uber, đều có chung một mô-típ.
Nhà đồng sáng lập kiêm CEO Uber Travis Kalanick /// Reuters
Theo cây bút Vivek Wadhwa của trang Quarzt, điểm chung của các hãng công nghệ phát triển nhanh nhất nước Mỹ, như Google, Amazon, Uber, eBay hay AirBnb, là họ không tập trung vào việc bán sản phẩm, mà chú trọng xây dựng nền tảng.
Khả năng tận dụng và gia tăng hiệu quả mạng là điều mà ngành công nghệ Mỹ đã học và hoàn thiện từ lâu. Đây là yếu tố cung cấp cho Thung lũng Silicon lợi thế so với các đối thủ trong tất cả các ngành ở thời đại mà mọi thông tin đều được số hóa.
Nền tảng không phải là khái niệm mới, đó đơn giản là cách để xây dựng một thứ gì đó mở, toàn diện và có chiến lược tập trung. Hãy suy nghĩ về sự khác biệt của một cửa hàng ven đường và trung tâm mua sắm. Trung tâm mua sắm có nhiều lợi thế về kích thước và quy mô, mỗi cửa hàng trong trung tâm đều hưởng lợi từ hoạt động tiếp thị và quảng cáo của những cửa hàng khác. Họ chia sẻ chung cơ sở hạ tầng và kinh phí.
Apple đã học được điều này một cách khó khăn trong thập niên 1980, khi họ tạo ra những phiên bản đầu của máy tính Macintosh. Thế hệ máy tính này có hệ điều hành, phần cứng và các ứng dụng độc quyền, khép kín.
Tỉ phú Bill Gates, ngược lại, nhận ra rằng chìa khóa mở cửa lợi nhuận và sức mạnh là hệ điều hành và hệ sinh thái phát triển mạnh. Do đó, Bill Gates thiết kế Microsoft Windows dưới dạng hệ thống mở, nơi những người tham gia khác có thể cung cấp phần cứng và phần mềm. Số chương trình chạy trên hệ điều hành Windows tỷ lệ thuận với lượng người dùng muốn sở hữu nó và vì thế, ngày càng có nhiều nhà phát triển tạo ra thêm ứng dụng. Windows gần như trở thành độc quyền những năm 1990, khi Apple bên bờ vực phá sản.
May mắn cho Apple là vào năm 2007, ông Steve Jobs đã tìm ra lợi thế của Microsoft. Nhà đồng sáng lập hãng táo khuyết xây dựng nền tảng mở iPhone App Store và iTunes, nơi nhiều người có thể cung cấp nội dung. Khi đó, top 5 hãng điện thoại là Nokia, Samsung, Motorola, Sony Ericsson và LG đang sở hữu 90% lợi nhuận trong ngành này, song Apple vẫn vươn lên và phát triển cho đến hôm nay.
Công thức thành công của các doanh nghiệp hàng đầu Mỹ - ảnh 1
Tỉ phú Bill Gates và nhà sáng lập Apple Steve Jobs có hướng đi khác nhau trong những ngày đầu - Ảnh: AFP
Apple đã có thể kết nối các nhà phát triển ứng dụng với người dùng ứng dụng trong thị trường mà cả đôi bên cùng có lợi. Số nhà phát triển tăng thì số người dùng cũng tăng. Điều này tạo ra “hiệu ứng mạng”, quá trình mà sản xuất nhiều hơn thu hút tiêu thụ đi lên, rồi tiếp tục dẫn đến sản xuất nhiều hơn.
Một ví dụ khác là cách báo chí liên kết với các nhà quảng cáo và bạn đọc. Điều thay đổi duy nhất là công nghệ phát triển làm giảm nhu cầu sở hữu hạ tầng và tài sản, khiến việc xây dựng nền tảng kỹ thuật số trở nên rẻ hơn.
Các tác giả Geoffrey Parker, Marshall Van Alstyne và Sangeet Choudary của quyển Cách mạng nền tảng gọi các doanh nghiệp truyền thống là “đường ống”, tạo ra giá trị bằng cách kiểm soát chuỗi quá trình. Hoạt động kinh doanh thiết bị cầm tay của Apple cũng là một đường ống cổ điển, song khi kết hợp với App Store - nơi kết nối nhà phát triển với người sử dụng - nó đã trở thành một nền tảng. Nền tảng tăng trưởng theo cấp số nhân với các hiệu ứng mạng.
Các công ty truyền thống hoạt động hiệu quả nhờ tối ưu lao dộng và quy trình. Đối với nền tảng, hoạt động hiệu quả là khi tạo được điều kiện tương tác lớn hơn giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng.
Uber có ý định chiến lược là cung cấp ô tô tự lái, nhưng trong lúc ngành công nghệ vẫn đang phát triển, họ xoay sở với các tài xế bình thường. Uber đã xây dựng nền tảng cho phép sự phát triển nhanh chóng khi công nghệ, hành vi người tiêu dùng và các quy định thay đổi.
Các doanh nghiệp như Walmart, Nike, John Deere và General Electric cũng đang hướng đến xây dựng nền tảng trong ngành công nghiệp của họ. Đơn cử, nhà sản xuất John Deere đang muốn trở thành trung tâm cho các sản phẩm nông nghiệp. 

3 cách giúp Rolex trở thành công ty nổi tiếng nhất trên thế giới

“Nếu bạn là một thợ lặn hải quân và bạn muốn có thứ gì đó đơn giản là công cụ và tồn tại mãi mãi, có thể chịu được khi bạn xuống sâu 100 mét, bạn sẽ mua đồng hồ Rolex. Vì nó là loại làm được”, ông Clymer nói.

Khi nhắc đến đồng hồ, rất nhiều người nghĩ ngay đến Rolex. “Ông vua đồng hồ” gần đây được Reputation Institute bình chọn là doanh nghiệp, thương hiệu nổi danh nhất thế giới năm 2016.
 /// Reuters

Thương hiệu Rolex ăn sâu vào tâm trí người dùng thế giới đến mức thật khó để tin rằng đồng hồ từng tồn tại trước khi ông Hans Wilsdorf, người Áo, thành lập công ty vào đầu thập niên 1900, theo trang Business Insider. Rolex hiện là nhà sản xuất đồng hồ lớn mạnh nhất và luôn đứng top trong danh sách các doanh nghiệp nổi tiếng nhất hành tinh.
Rolex không thực sự công bố doanh số, song giới chuyên gia ước tính rằng hãng này sản xuất gần 1 triệu chiếc đồng hồ mỗi năm, nhiều hơn bất cứ hãng sản xuất đồng hồ xa xỉ nào. Làm thế nào để Rolex trở thành bậc thầy trong lĩnh vực này?
Theo Ben Clymer, nhà sáng lập và tổng biên tập trang dành cho giới đam mê đồng hồ Hodinkee, Rolex xây dựng thương hiệu của họ bằng sự đổi mới đáng kinh ngạc, lấy chất lượng gắn với cái tên và sở hữu một trong những đợt quảng cáo của giới nổi tiếng nổi bật nhất thế kỷ 20. Nói một cách đơn giản, “Rolex là Rolex với một lý do nhất định”, ông Clymer nói.
Đổi mới và đổi mới

3 cách giúp Rolex trở thành công ty nổi tiếng nhất thế giới - ảnh 1
Đổi mới, sáng tạo là một trong các yếu tố giúp Rolex thành công - Ảnh: Rolex
“Đổi mới thực sự trong lĩnh vực đồng hồ là những gì đưa Rolex đến với con đường họ đang đi”, ông Clymer cho hay. Để củng cố vị thế doanh nghiệp, Rolex phát minh: loại đồng hồ không thấm nước đầu tiên, đồng hồ dây cót cổ điển đầu tiên, đồng hồ đầu tiên có hiển thị ngày tháng.
Trước khi đồng hồ trở thành mặt hàng xa xỉ như hiện nay, nó là một công cụ. Những đổi mới của Rolex đã khiến đồng hồ trở nên đa dụng hơn và giúp người dùng dễ dàng đeo chúng mỗi ngày. “Bạn không thể rửa tay với một chiếc đồng hồ không có tính năng chống thấm nước”, Clymer nói.
Nổi danh về chất lượng
Sau khi thực hiện các đổi mới trong ngành chế tạo đồng hồ nửa đầu thập niên 1990, Rolex đã xây dựng được danh tiếng về độ bền của sản phẩm. Để tất cả các cải tiến hoạt động được và khiến những chiếc đồng hồ trở thành công cụ chạy được, chúng phải là những sản phẩm tốt nhất. Đồng hồ không đơn thuần là một mặt hàng xa xỉ như hiện nay.
“Nếu bạn là một thợ lặn hải quân và bạn muốn có thứ gì đó đơn giản là công cụ và tồn tại mãi mãi, có thể chịu được khi bạn xuống sâu 100 mét, bạn sẽ mua đồng hồ Rolex. Vì nó là loại làm được”, ông Clymer nói.
Được vận động viên bơi thử nghiệm và giới thiệu

3 cách giúp Rolex trở thành công ty nổi tiếng nhất thế giới - ảnh 2
Hãng Rolex được thành lập bởi Alfred Davis và Hans Wilsdorf  ở Anh năm 1905. Công ty dời trụ sở đến Thụy Sĩ năm 1919 - Ảnh: Reuters
Đổi mới và có chất lượng là cần thiết, nhưng vẫn chưa đủ nếu khách hàng tiềm năng của bạn không nhận thức được hai yếu tố đó.
Năm 1927, nhà sáng lập Rolex Hans Wilsdorf tiếp cận bà Mercedes Gleitze, người phụ nữ đầu tiên bơi qua eo biển Anh (cũng là người đầu tiên bơi qua eo biển Gibraltar) và đề nghị cô đeo mẫu đồng hồ Rolex Oyster mới với chức năng không thấm nước. Nữ vận động viên này đồng ý và đeo nó quanh cổ của cô khi nỗ lực bơi qua eo biển.
“Người phụ nữ này sau đó xuất hiện trên trang nhất của nhiều tờ báo vào mỗi ngày và cô đeo một chiếc Rolex trên cổ”, ông Clymer cho biết. Danh tiếng của Gleitze đã là bệ phóng cho tên tuổi Rolex trong ý thức khách hàng tiềm năng.
Rolex đã được giúp để nói lên rằng những chiếc đồng hồ của họ có thể hiển thị thời gian chính xác ngay cả khi bị ngập trong nước nhiều giờ liền. Điều này làm tăng đáng kể nhận thức thương hiệu và ý kiến của công chúng về chất lượng Rolex.
Hãng đồng hồ có trụ sở tại Geneva (Thụy Sĩ) từ đó sử dụng hình ảnh nữ vận động viên bơi lội mang đồng hồ trong nhiều quảng cáo của họ, gần đây nhất là quảng cáo tung ra hồi năm 2010.

Thói quen thức dậy cực sớm của các CEO nổi tiếng thế giới

Nhà đồng sáng lập hãng quản lý đầu tư PIMCO Bill Gross đến văn phòng lúc 6 giờ


Thức dậy trước hoặc trong lúc mặt trời mọc là thói quen của nhiều giám đốc điều hành công ty lớn thế giới như CEO Apple Tim Cook, CEO Starbucks Howard Schultz và nhà sáng lập quỹ đầu tư PIMCO Bill Gross.
CEO Fiat Chrysler, ông Sergio Marchionne /// Reuters
Theo trang Business Insider, một số CEO nổi tiếng trên thế giới thức dậy sớm hơn hẳn nhiều người bình thường. Một vài giờ dậy sớm là lúc họ ít bị mất tập trung, có thêm năng lượng và sự sáng tạo. Thêm vài giờ buổi sáng nhờ dậy sớm cũng là thời gian phù hợp để luyện tập thể dục, thể thao và chăm sóc gia đình.
Dưới đây là vài CEO thành công có thói quen dậy cực kỳ sớm. Họ có thể là động lực giúp bạn không ấn nút “báo lại” trên đồng hồ báo thức vào mỗi sáng. 
Thói quen dậy cực sớm của các CEO nổi tiếng thế giới - ảnh 1
CEO Apple Tim Cook thức dậy lúc 3 giờ 45 phút sáng, bắt đầu ngày mới bằng việc kiểm tra email
Giám đốc điều hành nổi tiếng của hãng táo khuyết từ lâu đã được biết đến là người hay dậy sớm. “Ông thức dậy lúc 3 giờ 45 mỗi buổi sáng, kiểm tra và giải quyết thư điện tử trong khoảng một tiếng, đi tập thể dục, sau đó dùng một cốc Starbucks trong lúc tiếp tục giải quyết email rồi đi làm. Vấn đề ở đây là khi bạn yêu những gì bạn làm, bạn không xem nó như một công việc. Đó đơn giản là những gì bạn làm mỗi ngày”, theo hồ sơ CEO trên tờ Time. 
Thói quen dậy cực sớm của các CEO nổi tiếng thế giới - ảnh 2
CEO AOL Tim Armstrong thức dậy lúc 5 giờ, nhưng không giải quyết quá nhiều email
 Tim Armstrong, CEO hãng truyền thông AOL kiêm cựu giám đốc điều hành hãng công nghệ Google, nói với tờ The Guardian rằng ông không phải “một người thích ngủ” và dậy vào lúc 5 giờ hoặc 5 giờ 15 mỗi sáng để tập thể dục, đọc sách, lướt web và đi dạo với con gái ông. Amstrong cho biết ông cố gắng để dành việc kiểm tra thư điện tử đến khoảng 7 giờ sáng mới bắt đầu. 
Thói quen dậy cực sớm của các CEO nổi tiếng thế giới - ảnh 3
CEO General Electric Jeff Immelt thức dậy lúc 5 giờ 30 để tập thể dục
Ông Immelt chia sẻ với tờ Fortune rằng ông dậy lúc 5 giờ 30 sáng để tập các bài tập cho tim mạch. Cùng lúc, ông đọc báo hoặc xem kênh CNBC. Ông cho hay mình đã tập thể dục 100 giờ/tuần trong 24 năm liên tục.
Thói quen dậy cực sớm của các CEO nổi tiếng thế giới - ảnh 4
CEO PepsiCo Indra Nooyi có mặt ở văn phòng lúc 7 giờ
Bà Nooyi thức dậy lúc 4 giờ sáng và chia sẻ với tờ Fortune rằng: “Nhiều người nói rằng giấc ngủ là một món quà mà Chúa ban cho bạn. Nhưng tôi không nhận được món quà đó”. Trong một bài phát biểu tại hãng Pepsi, bà cho hay mình không bao giờ có mặt ở văn phòng muộn hơn 7 giờ sáng. 
Thói quen dậy cực sớm của các CEO nổi tiếng thế giới - ảnh 5
CEO Twitter và Square, ông Jack Dorsey, thức dậy trước bình minh để chạy bộ gần 10 km
Theo Tạp chí New York, nhà đồng sáng lập trang mạng xã hội Twitter thức dậy lúc 5 giờ 30, ngồi thiền và chạy bộ khoảng 9,6 km. 
Thói quen dậy cực sớm của các CEO nổi tiếng thế giới - ảnh 6
CEO Fiat Chrysler, ông Sergio Marchionne, làm việc ngay sau khi thức dậy lúc 3 giờ 30
CEO Sergio Marchionne của hãng sản xuất ô tô lớn thứ bảy thế giới, dậy lúc 3 giờ 30 để xem xét thị trường châu Âu, theo một tài liệu về cách ông vực dậy hãng Fiat Chrysler. “Ông Sergio phát minh ra ngày thứ tám trong tuần. Khi ở Ý đang là kỳ nghỉ, ông đến Mỹ để làm việc, Khi ở Mỹ đang có kỳ nghỉ, ông trở lại Ý để làm việc”, tài liệu trên viết. 
Thói quen dậy cực sớm của các CEO nổi tiếng thế giới - ảnh 7
Nhà đầu tư 'Shark Tank' Kevin O'Leary thức dậy lúc 5 giờ 45 để kiểm tra thị trường châu Á và châu Âu
“Một nhà đầu tư giỏi không nằm trên giường ở Bắc Mỹ và chẳng kết nối với nước ngoài, bởi vì nếu có chuyện gì đó xảy ra ở London hay Tokyo trong khi bạn ngủ, mọi thứ có thể thay đổi”, nhà đầu tư O'Leary chia sẻ trong một bài viết trên Business Insider. Sau khi kiểm tra thị trường trái phiếu, ông đạp xe và xem bản tin kinh doanh trong 45 phút tập luyện. Sau đó, ông có một giờ đọc sách và tìm thông tin kinh doanh trước khi bắt đầu làm việc lúc 9 giờ 30, khi thị trường mở cửa.
Thói quen dậy cực sớm của các CEO nổi tiếng thế giới - ảnh 8
Nhà sáng lập kiêm chủ tịch Virgin Group Richard Branson dậy lúc 5 giờ 45 để tập thể dục
Dù đang nghỉ ở hòn đảo riêng của mình, ông Branson vẫn dậy cùng lúc mặt trời mọc. Ông tập thể dục, ăn sáng sớm trước khi đi làm. 
Thói quen dậy cực sớm của các CEO nổi tiếng thế giới - ảnh 9
CEO General Motors Mary Barra có mặt ở văn phòng lúc 6 giờ
Giống như người tiền nhiệm Daniel Akerson, giám đốc điều hành hiện tại của hãng General Motors cũng dậy sớm. Theo hồ sơ trên tờ New York Times, bà Barra thường xuyên có mặt ở văn phòng lúc 6 giờ sáng từ trước khi trở thành CEO.
Thói quen dậy cực sớm của các CEO nổi tiếng thế giới - ảnh 10
Nhà đồng sáng lập hãng quản lý đầu tư PIMCO Bill Gross đến văn phòng lúc 6 giờ
Theo tờ Fortune, ông Bill Gross thức dậy lúc 4 giờ 30 mỗi sáng để kiểm tra tình hình các thị trường trước khi có mặt ở văn phòng lúc 6 giờ. 
CEO Starbucks Howard Schultz có mặt ở văn phòng lúc 6 giờ
Ông Schultz cũng là một lãnh đạo doanh nghiệp có mặt sớm ở văn phòng. Ông tập thể dục bằng cách đạp xe với vợ trước khi đi làm.